PHIÊN NGOẠI KHUYNH TẪN THIÊN HẠ – LOẠN THẾ PHỒN HOA

Tiết tử

Sau Khuynh Càn thịnh thế, Đế quốc Đại Khuynh một thời hưng thịnh bắt đầu đối mặt với một thời kỳ suy yếu đến diệt vong.
Vũ lịch năm 240 ghi lại, phản loạn tại phía Bắc khu vực Lưu Hà nổi dậy phá nát chính quyền thống nhất Đại lục. Quyền lực thống trị của Đại Khuynh đối với khu vực này ngày càng suy giảm.
Vũ Lịch năm 516, Thủ lĩnh tộc người du mục Gia Hà thế như chẻ tre, công thành bạt trại tiến tới Hoàng đô. Hoàng đế Phương Tổ Tức đã tự vẫn để tạ tội với anh linh tổ tiên.
Vũ Lịch năm 517, Đại Khuynh thất thủ, Gia Hà thị trở thành tân bá chủ, thống nhất đại lục, sửa niên hiệu thành Duyên Nguyên.
Gia Hà Thị lèo lái con thuyền quyền lực thống trị chỉ trong vòng năm 50 năm ngắn ngủi. Vốn là tộc người chỉ thiện chiến không thiện chính vụ, những mức sưu cao thuế nặng đổ lên đầu dân chúng khiến người người ca thán, điều tất yếu phải xảy ra là nội loạn, khắp nơi nổi dậy không ngừng khởi nghĩa.
Duyên Lịch năm 49, cuộc khởi nghĩa lớn nhất đã diễn ra tại phía Nam Diệu Huyền.
Thủ lĩnh quân khởi nghĩa Cố Phượng Lâm bước lên vũ đài Lịch sử, hiệu “ Hãn Vương”, dẫn theo 10 vạn quân mệt mỏi suy yếu mà đánh tan 20 vạn đại quân hổ lang chi sư vùng thảo nguyên, lật đổ Duyên triều, thành lập Đại Việt.
Trải qua 200 năm, Đại Việt vương triều cũng không thoát khỏi vòng quay số phận mà lùi về quá khứ. Lý, Hàn, Kim, Độc Cô, Vũ Văn, 5 đại phiệt mỗi họ hùng cứ một phương, Đông Tây Nam Bắc Trung, suốt trăm năm đánh chiếm lẫn nhau, chiến loạn triền miên, dân chúng lầm than.
Ngũ phụ chiến loạn suốt trăm năm, từ sự hoang tàn của một quốc gia nội loạn một triều đại mới được hình thành – một triều đại kế tục sự hưng thịnh của Đại Khuynh – Đại Lê ra đời.
Khúc ca Đại Lê hưng thịnh thái bình kéo dài ngót 360 năm, đứng lên từ một nước suy tàn vì chiến loạn, nay lại bước dần trên con đường lụi tàn. Cùng lúc đó, từ bờ bên kia của đại dương, xuất hiện 7 nước cường đại với nền văn hóa sau phục hưng, cùng nền chính trị tư bản chủ nghĩa cường thịnh sau khi đã lật đổ sự thống trị hàng ngàn năm của chế độ phong kiến.
Kỹ thuật hàng hải phát triển đã đưa những con người có màu da khác biệt đặt chân lên mảnh đất Đại Lê, khai mở nên thời kỳ mới.
Mảnh đất rộng lớn trù phú của Đại lục khiến những kẻ ngoại quốc lạ mặt không ngừng thèm khát.
Đại Lê thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng nhưng một đất nước đang dần mục ruỗng thì làm sao đối chọi nổi với chiến thuyền đại pháo tối tân của những cường quốc thời kỳ hưng thịnh?
Hoàng thất Đại Lệ đành mãi quốc cầu vinh, cắt đất nhượng tiền, nịnh bợ bao che những kẻ ngoại quốc ấy để mua lấy sự yên bình thống trị Đại Lục.
Vào thời khắc đất nước lâm nguy, tất cả các chí sĩ ái quốc đều đồng loạt đứng lên đoàn kết với nhau, quy mô như lũ quét chưa từng thấy trong lịch sử.
Từ nơi kinh đô trọng địa cho tới đồi núi hoang vu, nơi nơi dường như đều có bóng dáng của quân cách mạng.
Dưới sự dẫn dắt của Quốc phụ Tôn Trọng Khải, Quân Cách Mạng đã đánh bại quân Đại Lê cùng ngoại quốc quân, vị hoàng đế cuối cùng của Đại Lê – Hoành Viễn đế buộc phải tuyên bố thoái vị. Triều đại phong kiến chính thức chấp dứt, Hoa Hạ Quốc ( Trung Hoa – tên cũ của Trung Quốc) thống phủ ra đời, tiến hành chế độ chính trị Tam Quyền phân lập.
Hành chính, tư pháp, lập pháp là 3 quyền lực mới có địa vị ngang nhau, thoát ly khỏi cơ cấu của chính phủ, độc lập với nhau, kiểm chế ( kiểm tra, chế ngự) lẫn nhau.
Vạn người một lòng, đồng tâm hiệp lực, sức mạnh của một dân tộc đại đoàn kết tựa như sắt thép thành đồng khiến ngoại quốc quân không khỏi e ngại chùn bước.
Thế nhưng, khi Tôn Trọng Khải lâm bệnh mà qua đời, chính quyền ấy đã rơi vào cảnh tứ phân ngũ liệt ( chia 5 xẻ 7)
Trên danh nghĩa mọi người đều ủng hộ quyền lãnh đạo của Quốc Thống phủ, tuy nhiên trên thực chất cũng chỉ là độc chiếm quyền lực, chẳng khác gì các triều vua chúa. Ai cũng hiểu chỉ là chẳng ai tuyên bố mà thôi.
Trong đó, Đông Bắc Vương “ Phương Động Liêu” cùng Tổng thống Quốc Thống phủ “Dư Nghệ Trì” là hai thế lực lớn mạnh nhất lúc bấy giờ.
Công Nguyên năm 1928, Đông Bắc Vương “ Phương Động Liêu” đón chào quý tử chào đời, tên gọi Quân Kiền.
Lúc đến uống ly rượu mừng đầy tháng của tiểu hài tử, Dư Nghệ Trĩ đã kinh hãi mà thốt lên: “ Phương Quân Càn? Cùng tên với thiên cổ thánh quân Hoàn Vũ Đế sao?”
Kiền- Càn, đồng âm bất đồng tự, đã khiến Dư Tổng thống nghe nhầm rồi.
Bất quá, Phương Động Liêu chỉ cười ha hả, y vốn bản tính hào phóng, lại lười sửa lại cho đúng, lỡ đâm lao thì đành theo lao thôi, liền sửa tên quý tử của mình trở thành “ Quân Càn”.
Sau này khi Dư Nghệ Trì đã rõ ngọn nguồn liền trêu chọc: “ Hoàn Vũ đế xuất hiện, chẳng biết công tử Vô Song liệu có đầu thai chưa?”
Chuyện xưa đã trở thành dĩ vãng, nay lại một lần nữa sống dậy từ thời khắc này…

2 responses to “PHIÊN NGOẠI KHUYNH TẪN THIÊN HẠ – LOẠN THẾ PHỒN HOA

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s